Văn học Phật giáo từ thời đức Phật đến thời vua Asoka

08-02

Trụ đá vua Aśoka tại Vesali



Văn học Pàli Thượng tọa bộ là một trong các nguồn văn liệu đặc biệt quan trọng của Phật giáo. Quan trọng bởi nguồn gốc lịch sử khá ổn định, là nguồn văn liệu được gìn giữ kỹ lưỡng và đầy đủ nhất. Cách đây gần 3000 năm đức Phật đã hiện hữu trên cuộc đời, sống trong nhung lụa quyền quý nhưng dưới mắt Ngài còn biết bao khổ đau của kiếp người. Khổ đau vì chế độ giai cấp bất công của truyền thống xã hội bấy giờ, cho đến khổ đau lớn nhất là phải lặp đi lặp lại mãi kiếp sống không thú vị gì trong sáu nẻo luân hồi. Tất cả nỗi niềm băn khoăn ấy đã thúc đẩy ngài từ bỏ cuộc đời vương giả dấn thân đi tìm lẽ sống vĩnh hằng bất tử. Ngài đã trở thành bật toàn giác toàn trí thấu suốt mọi quy luật chi phối con người và vũ trụ. Suốt 49 năm hoằng dương chánh pháp. Đức Phật tiếp xúc nhiều hạng người có căn cơ và trình độ khác nhau. Ngài đã tuỳ duyên giảng dạy nhiều phương pháp tu hành giúp họ đi ra khỏi khổ đau, chứng ngộ Niết bàn. Những nơi mà Ngài thuyết giảng tương đối khá rộng, không những chỉ có thế, Ngài còn cho phép những đệ tử dùng tiếng địa phương truyền bá, khi tuyên dương chắc chắn có một phương thức cố định.



Với đề tài “Văn học Phật giáo từ thời đức Phật đến thời vua Asoka”. Qua đó, sẽ trình bày nguồn gốc và sự hình thành, phát triển của nền văn học Pàli để thấy ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo đối với nền văn hóa Ấn độ. Chúng ta có thể nói rằng đây chính là động lực xâu xa nhất của những gì ta gọi là thành quả đóng góp của Phật giáo cho cuộc đời, trong đó có sự nở hoa của nền văn học Pàli.

I.    Nguồn gốc và quê hương tiếng Pàli

404 Not Found
404 Not Found
Cơ sở khiến văn học Pàli được hình thành và phát triển bắt nguồn từ sự xuất hiện đặc biệt của một nhân vật lịch sử, những hoạt động đầy trí tuệ và từ bi của người ấy đối với cuộc đời, đức Phật Gotama. Chính cuộc đời và sự nghiệp giáo dục rất người và rất cao cả của Ngài đã là nguồn cảm hứng vô tận cho các thế hệ phật tử trong việc tạo ra các bộ luận nỗi tiếng, biên soạn các công trình nghiên cứu và chú giải giá trị, sáng tác nên những án văn chương hay, bên cạnh sự trân trọng gìn giữ những lời dạy được ghi nhớ bằng ký ức hay được ghi chép cẩn thận và lưu truyền nhiều đời của Ngài M.Winternitz cho rằng “Niên đại của đức Phật đã được xác định và như vậy chúng ta có thể ước lượng khởi nguyên của một nền văn học Phật giáo”.


Theo khảo cứu của phần lớn các học giả thì đức Phật ra đời ở Ấn độ khoảng thế kỷ thứ VI BC và M.Winternitz muốn đặt khởi nguyên của văn học Pàli trong khoảng thời gian đó. Giả thuyết rằng một nền văn học Phật giáo bắt nguồn từ đức Phật không phải không có cơ sở nhưng nó cần được chứng minh và làm sáng tỏ bởi sự kiện rằng “không có một văn bản gốc nào của thời kỳ Phật giáo đầu tiên ấy được truyền lại cho chúng ta”. Tất cả những gì liên quan đến đức Phật có được ngày nay do công ghi nhớ, sưu tập và biên soạn của nhiều thế hệ đệ tử Ngài. Bởi vậy Pàli là một ngôn ngữ dẫn đến nhiều giả thuyết và tranh luận, thật sự chưa có một kết luận chắc chắn và thỏa đáng nào về nguồn gốc hay quê hương của nó. Nhưng chúng ta có thể chấp nhận quan điểm hoàn toàn dựa vào truyền thống và ít nhiều cứng nhắc của các phật tử Tích Lan, tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ bác một cách tuyệt đối. Sự hiện diện của đạo Phật và kinh tạng Pàli ở Tích Lan là một sự kiện lịch sử ít nhiều gắn với công cuộc truyền bá Phật pháp của các tỳ kheo dưới thời Asoka. Từ Magadha đạo Phật trực tiếp đến Tích Lan do công của Magadha. Magadha là xứ sở hoạt động chính của đức Phật và là căn cứ địa lâu đời của Phật giáo. Magadha cũng là nơi diễn ra hội nghị kết tập kinh điển lần thứ ba của đạo Phật ngay trước thời điểm Phật giáo được giới thiệu sang Tích Lan. Như vậy, giả thuyết rằng Màgadhì là nguồn gốc của tiếng Pàli cũng không phải hoàn toàn khơng có căn cứ. Hơn nữa Pàli là một ngôn ngữ văn học chuẩn xác đã được chọn để được lưu giữ lời dạy của bậc đạo sư và cũng là phương tiện thông tin của một trường phái Phật giáo mang đậm bản sắc Phật giáo nguyên thủy. Một ngôn ngữ văn học chuẩn xác hẳn là kết quả của sự nỗ lực liên tục lâu dài và có mục đích. Phải chăng khoảng thời gian đạo Phật bắt đầu thiết lập căn cứ địa ở Magadha, rồi từ Magadha đến Tích Lan là đủ để cho một ngôn ngữ địa phương như Màgadhì trở thành một ngôn ngữ văn chương chuẩn xác với sự nỗ lực không ngừng của các thế hệ phật tử. Và phải chăng kinh tạng Pàli đã là một nỗ lực có ý thức của các tỳ kheo Tích Lan trong việc phản ánh lời dạy của bậc đạo sư trong hình thức nguyên thủy Phật giáo.

II. Văn học Pàli thời đức Phật

1. Truyền thống đọc tụng và học thuộc lòng

Not Found


Mặc dù đức Phật không chú ý lưu lại những gì liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp truyền giáo của mình, các đệ tử của Ngài rất chú tâm học thuộc lòng và ghi nhớ kỹ những lời Ngài dạy. Một số các tính ngữ được dùng trong kinh tạng và luật tạng Pàli, trong các văn bản phát hiện ở Bàrhut và Sãnchì thế kỷ thứ II-III BC và trong các sớ giải để chỉ đặc điểm chuyên môn của các tỳ kheo như Dham-Makathika (người chuyên về pháp), Vinayadhara (người trì luật)…. Chứng tỏ các đệ tử của đức Phật rất quan tâm ghi nhớ và học thuộc lòng giáo pháp của ngài.

The requested URL /lm/getdata.php was not found on this server.


Sự xuất hiện những vị tỳ kheo chuyên về Pháp hay chuyên về Luật trong tổ chức Tăng già chứng tỏ giáo lý của Phật được chú ý nắm bắt và lưu giữ kỹ bởi một số các tỳ kheo chuyên môn và như vậy có thể bảo đảm tính xác thực của nó trong quá trình truyền thừa. Đến đây chúng ta có thể hiểu học thuộc lòng là một truyền thống xuất hiện rất sớm ở Ấn độ. Đây là cách giữ một phần các giá trị văn hóa tinh thần của người Ấn trong các điều kiện xã hội cổ xưa. Người ta học thuộc lòng hay lưu vào ký ức các thơ ca, sử thi hay kinh văn tôn giáo và truyền tụng từ đời này sang đời khác.

“Dấu tích của việc học thuộc lòng các bản kinh cũng có thể được thấy qua các văn bản còn lưu lại cho chúng ta ngày nay bởi sự trùng lặp của những đoạn văn giống hệt nhau được tìm thấy ở nhiều văn bản khác nhau và bở lối diễn đạt lặp đi lặp lại nhiều lần các câu và các đoạn trong cùng một văn bản. Phương pháp học thuộc lòng của các tỳ kheo được mô tả khá chi tiết trong tác phẩm Vibhanga thuộc Luật tạng Pàli”

2. Sự phân chia những lời dạy của đức Phật thành các thể loại

Sự phân chia những lời dạy của đức Phật thành các thể loại văn chương khác nhau như kinh (Geyyam), Ký thuyết (Veyyàka-ranam), Kệ tụng (Gàtham). Cảm hứng ngữ (Udànam), Như thị thuyết (Itivuttakam), Bổn sanh (Jàtakam), Vị tằng hữu (Abbhutadhammam), Phương quảng (Vedallam) được tìm thấy trong một số bản kinh Pàli. Giáo lý của Phật đã được chú ý sưu tập và phân tích trước khi được kiết tập tại các cuộc hội nghị kiết tập. S. G. P. Misra nói rằng thật hết sức tự nhiên, trong quá trình khẩu truyền giáo pháp, một số các bản kinh, các bài kệ, các truyện tích, các cách ngôn… được xem do đức Phật thuyết giảng hẳn đã trở thành chương trình học tập của các tỳ kheo, những người vì lý do thuận tiện đã phân loại chúng thành các tác phẩm khác nhau tùy theo hình thức, nội dung, ngôn ngữ và văn phong của chúng. Thông tin này đã nói lên được sự hiện diện của một nền văn học Phật giáo và bước đầu sự phát triển của nó trước khi những lời dạy của đức Phật được kiết tập tại các kỳ hội nghị.

III. Các hội nghị kiết tập

Nội dung và thủ tục kiết tập được áp dụng tại các kỳ hội nghị kiết tập như được ghi nhận bởi các tài liệu Cullavagga, Dìpavamasa, Mahàvamsa, Samantapàsàdikà cũng cho thấy giáo pháp của đức Phật đã được quan tâm lưu giữ rất kỹ bởi chư tăng nhiều thế hệ. Theo các tài liệu thì tất cả các kỳ kết tập được triệu tập bởi lý do có sự hiểu biết hay hành trì sai lạc, vượt quá giáo pháp và giới luật của đức Phật và đều nhằm mục đích gìn giữ sự chính xác và trong sáng của giáo pháp bậc Đạo sư. Lời tuyên bố thiếu suy nghĩ của Subhadda ngay sau khi hay tin đức Phật nhập Niết bàn khiến Tôn giả Mahà Kassapa phải đi đến quyết định triệu tập cuộc hội nghị lần thứ nhất ở Ràjagaha. Việc các tỳ kheo Vajjì chấp trì mười vấn đề vượt quá giới luật sa môn, đã dẫn đến hội nghị kết tập lần thứ hai tổ chức ở Vesàlì. Sự kiện các tu sĩ ngoại đạo xâm nhập Tăng già, hành trì và dẫn giải sai lạc giáo pháp của bậc Đạo sư khiến hội nghị kiết tập lần thứ ba được tổ chức ở Pàtaliputta. Nội dung các kỳ kiết tập cũng cho thấy Tăng già đã được triệu tập đầy đủ và các tỳ kheo uyên thâm về giáo pháp và giới luật được tuyển chọn để tụng đọc và thẩm định về pháp và luật đúng như họ đã trực tiếp nghe từ bậc Đạo sư hoặc học thuộc lòng và ghi nhớ đúng. Các thủ tục đọc tụng và thẩm định giáo pháp được áp dụng tại các kỳ kiết tập cũng cho thấy các bài pháp của đức Phật khó có thể ghi nhớ nhầm lẫn hoặc hiểu sai một khi chúng được tụng đọc đầy đủ từng câu từng chữ một rồi đưa ra biểu quyết trước đông đảo thính chúng gồm hàng trăm tỳ kheo thông thạo Pháp và Luật. Cứ theo các thông tin mô tả thì những kỳ hội nghị kiết tập chính là những dịp giáo pháp của đức Phật được nhắc lại đầy đủ và được thẩm định kỹ càng bởi các tỳ kheo thông thái. Đây cũng là dịp sưu tập lớn về giáo pháp thông qua sự ghi nhớ đa dạng của một số lượng lớn của tỳ kheo tiêu biểu tham dự hội nghị. Chính vì thế mà đến kỳ kiết tập lần thứ ba xuất hiện các bộ luận. Đến đây chúng ta có thể thấy tất cả các cứ liệu kiết tập giúp thêm bằng chứng về truyền thống tụng đọc và học thuộc lòng các kinh văn tôn giáo và về lịch sử truyền thừa ổn định của văn học Pàli trước khi nó chính thức chép thành văn bản.

IV. Văn học Pàli thời Phật giáo bộ phái

Nguyên nhân Phật giáo Nguyên thủy chia ra làm hai bộ phái, vì trong kỳ kết tập lần thứ hai, về vấn đề giới luật có chỗ bất đồng, Tăng chúng mới chia ra làm hai phái: Một phái gồm các vị Trưởng lão gọi là Thượng Tọa bộ, và một phái gồm phần nhiều các vị Tăng sĩ trẻ tuổi, nhưng rất đông đảo, gọi là Ðại Chúng bộ.

Về giáo nghĩa của các bộ phái, trừ Hữu bộ ra, còn đều y vào bộ “Dị Bộ Tôn Luân Luận” của ngài Phiệt Tô Mật Tử La (Vasumitra) trước tác ở khoảng thế kỷ II, do ngài Huyền Trang dịch. Và các bản dịch khác như “Thập Bát Bộ Luận” ngài La Thập dịch; “Bộ Chấp Dị Luận” ngài Chân Đế dịch, mà biết được một phần nào giáo nghĩa đại cương.

Về giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ, là giáo nghĩa Nguyên thủy Phật giáo. Những giáo nghĩa của Hữu bộ thì nương vào sự tiến triển của giáo lý Nguyên thủy Phật giáo và sự biến thiên của nó. Vì vậy chỉ nói về giáo nghĩa của Hữu bộ, cũng có thể suy biết được giáo lý của Thượng Tọa bộ.

Về nguyên nhân từ Thượng Tọa bộ phát sinh ra Hữu bộ. Ở thời kỳ đức Phật diệt độ sau 300 năm, có ngài Ca Đa Diễn Ni Tử (Ca Chiên Diên Tử), chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị để đối lập với Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng làm bản vị. Ngài Ca Đa Diễn Ni Tử tự sáng tác ra bộ “A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận” (Abhidharma Jnànaprasthàna Sàstra, 20 quyển), để làm nền tảng giáo lý của Hữu bộ. Vì thế nên giáo tổ của Hữu bộ là Ca Đa Diễn Ni Tử, giáo lý căn bản của Hữu bộ là “Phát Trí Luận”. Ngoài Phát Trí Luận ra, như “Lục Túc Luận” cũng là các bộ luận sở y của Hữu bộ. Lục Túc Luận: (1) A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Mơn Túc Luận (Abhidharma Sanjìtiparyàpàdá Sàstra, 20 quyển), tương truyền do ngài Xá Lợi Phất chế tác trong khi đức Thích Tơn cịn tại thế. (2) A Tỳ Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận (Abhidharma Dharma Skandhapàda Sàstra, 12 quyển), do ngài Mục Kiền Liên sáng tác. (3) A Tỳ Đạt Ma Thi Thiết Túc Luận (Abhidharma Prajnàtipàda Sàstra, 18.000 bài tụng), do ngài Đại Ca Chiên Diên sáng tạo. (4) A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận (Abhidharma Vijnànakàyapàda Sàstra, 16 quyển), do ngài Đề Bà Thiết Ma (Devasarman, Thiên Tịch) sáng tác khoảng Phật diệt độ sau 100 năm. (5) A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận (Abhidharma Prakadanapàda Sàstra, 18 quyển). (6) A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận (Abhidharma Harma Dhàtukàyapàda Sàstra, 3 quyển), hai bộ này ngài Thế Hữu soạn thuật, ở thời kỳ sau khi Phật diệt độ hơn 200 năm (Thế Hữu, cũng cùng tên với ngài Thế Hữu trước tác bộ “Tôn Luân Luận”, nhưng nhân vật khác nhau). Sáu bộ luận kể trên, về phần giáo lý chỉ là một bộ phận của Phát Trí Luận, nên gọi là Lục Túc Luận, còn Phát Trí Luận gọi là Thân Luận, đó là theo ý nghĩa bản và mạt.

Về sau, ở vương triều Ca Nhị Sắc Ca (Kaniska), các bậc học giả của Hữu bộ, lại giải thích giáo nghĩa của “Phát Trí Luận”, biên tập thành một bộ, gọi là “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận” (Abhidharma Mahàvibhàsà Sàstra, 200 quyển), trong đó thường thường có dẫn chứng nhiều về Lục Túc Luận.

Ngài Ca Đa Diễn Ni Tử là một bậc “thạc học” trong Phật giáo, tinh thông Tam tạng, nhưng ngài không thích về chủ trương của Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng làm bản vị, nên ngài lấy Luận tạng làm bản vị. Trong khi tu trì ở chùa Ám Lâm tự (Tamasàvanasaghàràma) nước Cinabhukti (Chi Na Bộc Để), thuộc Bắc Ấn Độ, ngài đã chế tác ra bộ “Phát Trí Luận”, lấy Bắc Ấn Độ làm trung tâm điểm tuyên dương Phật giáo.

Ngài chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, vì hai lý do, một là để đối kháng với tân thuyết của Đại chúng, một là để đả phá hai học phái Thắng Luận và Số Luận của ngoại đạo, đang phục hưng lúc đương thời, thường thường hay bài xích Phật giáo. Vì mục đích đó, nên ngài chủ trương môn lý luận của Phật giáo cần phải được tổ chức cho vững chắc, trong khi biện luận, thường lấy nghĩa lý của Thắng Luận và Số Luận để dẫn chứng, nên giáo nghĩa của Hữu bộ có hình thức ảnh hưởng về Thắng Luận, cũng như giáo nghĩa của Đại Chúng bộ, chịu ảnh hưởng giáo nghĩa Số Luận của ngoại đạo.

V. Văn học Pàli thời Asoka

Asoka lên ngôi trong vòng 9 năm, vì mục đích thống nhất toàn nước Ấn Độ nên đem quân chinh phạt các nước lân cận như Kalinga thuộc Nam Ấn độ  (nước này là một cường quốc, rất mạnh về kinh tế và quân sự) và các nước khác như Peshàwar, Pùri, Ganja, Thàna, Bhopal, Hyderabàd, Mysore, Bihàr, Afghanistan, Népal… Asoka đã chinh phục toàn bộ đất Ấn. Nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, với sự đẫm máu này Đại đế thấy ghê tởm chiến tranh. Nhà vua thấy cảnh chiến tranh như thế lấy làm buồn thảm và hối hận về thảm họa đó. Biết bao nhiêu người dân vô tội bị giết hại, cô nhi quả phụ phải bị tai ương. Vì thế Asoka quyết định bỏ vũ lực, không động đến binh đao.

Bởi do hối hận cuộc chiến tranh đẫm máu, Asoka muốn được sám hối và ăn năn những tội lỗi đã gây ra. Vì thế nhà vua quyết định trở về quy y Phật đạo và trở thành một phật tử. Ngoài những công cuộc cai trị đất nước, nhà vua còn tự mình xin thọ giới Ưu-bà-tắc, nghe pháp, lễ Phật, tu tập. Đặc biệt là đối với nền tảng chấn hưng Phật giáo, vua có những sự nghiệp lớn lao.

Những sắc lệnh được khắc trên các bia đá, hang núi và các trụ đá rải rác nhiều nơi trên cõi Ấn Độ được phát kiến bởi các nhà khảo cổ gần đây. Những sắc lệnh này là những mốc lịch sử quý báu cho các Sử gia cũng như sự tồn tại của Phật giáo ngày hôm nay, đồng thời để biết được Phật giáo thời bấy giờ ảnh hưởng đến giới vua chúa, thế lực trong xã hội như thế nào; điển hình là các trụ đá ở vườn Lâm-tỳ-ni (Lumpinivattu) và các bia ký, vách núi khác. Những lời lẽ pháp sắc được khắc trên trụ đá, những bản văn khắc trên bia ký cũng như vách núi phần nhiều ăn khớp với những dữ kiện ghi trong Đại sử và Đảo sử của Tích Lan. Niên đại của những bản khắc văn này vào khoảng năm 250 BC. Văn tự này là một thứ tiếng địa phương, gần với tiếng Pàli và Sankrit. Hiện nay phát hiện có năm loại vách đá lớn, bảy loại vách đá nhỏ, mười trụ đá, bài minh khắc trong hang đá và bảng đá …

Nói chung, nội dung được khắc lên đá là những lời đúng với lời dạy của đức Phật cũng như lịch sử của Ngài, đồng thời trong đó cũng có khắc lên ý nghĩa phục vụ mục tiêu chính trị dựa trên nền tảng giáo lý Phật-đà để cai trị nhân dân. Thực hiện chính sách khoan dung độ lượng với nhân dân trên tinh thần Phật giáo.

Asoka năm thứ 13 – 14, nhà vua đã phái các nhà truyền đạo, các bậc chánh pháp đại quan đi truyền bá giáo pháp khắp tồn cõi Ấn và ra nước ngoài như Hy Lạp, Ai Cập, Siria, các nước châu Phi và Viễn đông, các địa phương phương Đông, bờ biển Địa Trung Hải, các nước phương Bắc, Nam. Đặc biệt là Asoka cho con trai của mình là Mahinda xuất gia và truyền đạo tại Tích Lan. Có thuyết viết, sau khi kết tập kinh điển lần thứ ba xong, Mahinda đem cả Tam tạng Thánh điển Pàli qua Tích Lan truyền giáo, và Mahinda là người dày công xây dựng nền móng cho Thượng Tọa bộ Nam phương Phật giáo.

Trong lúc Phật giáo bắt đầu có sự phân chia để đáp ứng việc phát triển nên không tránh khỏi những bất đồng trong nội bộ về một số kinh luận. Đại đế Asoka đã góp công chỉnh đốn lại một phần nào. Tương truyền Asoka đã làm chấm dứt tình trạng phân phái của 60.000 tăng sĩ tại chùa Asoka đã kéo dài 7 năm. Trước tiên, nhà vua ra lệnh chư tăng tại chùa làm lễ Bố tát chung. Asoka đã cử các đại thần trong triều đến tại chùa để đốc thúc việc thi hành vương lệnh. Thế nhưng các vị Thượng Tọa trưởng lão ở đây không chịu hành lễ chung cùng với Đại Chúng vì cho đó là tà giáo ngoại đạo. Điều này cho ta thấy, đây là nền tảng phân phái chia rẽ thành các Bộ phái về sau.

Sau khi có một số vị Cao tăng bị chết oan, nhà vua đích thân đến chùa để xem xét việc này. Asoka đã hỏi chư tăng do đâu mà có sự cố này, và tội lỗi này có phải do nhà vua gây ra không? Trước ý kiến bất đồng của chư tăng không thể phân định được, Asoka sai sứ triệu thỉnh ngài Moggaliputtatisa (Mục-liên-đế-tu tôn giả), bấy giờ đang ẩn tu tại núi Ahoganga. Ngài từ chối, nhưng do sự khẩn thiết thưa thỉnh đến lần thứ ba nên Ngài đã nhận lời. Ngài hạ sơn, xuôi theo dòng sông Hằng đến thành Hoa Thị. Qua những nghi vấn của Asoka, ngài Moggaliputta đã trả lời: “Không có tội lỗi nếu không có ác tâm trong khi hành động”. Nhờ đây mà Asoka gột sạch được những nghi ngờ cũng như hối hận. Nhân đó nhà vua ra lệnh mở đại hội kết tập kinh điển tại Hoa Thị thành kéo dài suốt 9 tháng.

Đại hội kết tập được sự chủ tọa của ngài Moggaliputta, Asoka ngồi sau một bức rèm chắn để nghe chư tăng trình bày về các điểm sai khác trong giáo pháp. Đồng thời nêu lên 62 kiến chấp của ngoại đạo mà đức Phật đã nêu và lên án trong Kinh Phạm Võng. Nhà vua nghe xong, phân biệt được đâu là chánh, đâu là tà, là chơn, là ngụy. Từ đó Asoka ra lệnh trục xuất một số Tăng sĩ vốn là ngoại đạo đội lốt để phá hoại ra khỏi giáo đoàn, buộc họ trở về đời sống cư sĩ. Lệnh này được khắc vào văn ở Kiều-thưởng-di vào năm 26 và 27 niên hiệu Asoka trị vì.

Sau khi thanh lọc xong, nhà vua cầu thỉnh ngài Moggaliputta chọn lấy 1000 vị thông hiểu Tam tạng thánh điển để kết tập lại kinh điển. Có lẽ tạng Luận được ghi đầu tiên là vào dịp này, và cũng có thể do Moggaliputta là tác giả bộ luận có tên “Sách Luận” hay “Thuyết Sự” nhằm bài xích các tà thuyết.

Đại hội kết tập kinh điển này lấy tên là “Hoa Thị thành kết tập” và được ghi chép vào khoảng cách 236 năm sau Phật Niết-bàn, tức là năm 250 trước Công nguyên, nhằm vào năm thứ 18 niên hiệu Thiên Ái Thiện Kiến. Đại hội kết tập lại năm bộ Nikàya và một số kinh luận khác.

Thành công xuất sắc nhất là việc truyền bá mạng mạch Phật pháp bằng những dòng bia ký, kết tập kinh điển….  Đại đế đã cho xây dựng Phật tích, dựng những trụ đá khắc ghi dấu ấn của sự hiện diện ngôi Tam bảo tại thế gian, làm an lạc hạnh phúc cho cuộc đời. Hình thức tín ngưỡng Phật pháp từ đây được phát triển. Tam tạng thánh điển còn được giữ lại tại Tích Lan cho đến ngày hôm nay. Đây là nguồn văn hóa lớn lao của nhân loại đã một thời làm hưng thịnh tại xứ Ấn, chủ trương giới thiệu chánh pháp, chánh trí, chánh hạnh và thống nhất các dị biệt giữa 18 bộ phái Phật giáo vì an lạc hạnh phúc cho đời.

VI. Phân loại văn học Pàli

Văn học Pàli như ta có ngày nay cơ bản được phân thành hai thể loại: văn học Kinh tạng và văn học không thuộc Kinh tạng hay còn gọi là văn chương hậu tạng. Văn học Kinh tạng tiêu biểu cho Tam tạng Pàli, bao gồm các tác phẩm Kinh, Luật, Luận được sưu tập và mở rộng dần tại ba kỳ kiết tập.

Cách phân loại trên là mới nhất và được chấp nhận bởi các học giả ngày nay. Tuy nhiên, trong lịch sử văn học Pàli trải qua nhiều sự phân loại khác nhau cho thấy quá tình hình thành phát triển của nền văn học này. Trong văn học Kinh tạng, chúng ta thấy sự phân loại những lời dạy của đức Phật được thực hiện rất sớm, thứ nhất bởi do chuyên môn hóa trong đội ngũ Tăng già và thứ hai bởi do hoạt động của các kỳ hội nghị kiết tập.

1. Luật tạng

Luật tạng gồm ba tuyển tập chính

Suttavibhanga là phần thứ nhất thuộc Luật tạng Pàli bao hàm giới bổn và phần dẫn giải gắn liền với mỗi giới điều được đề cập trong giới bổn.

Phần thứ hai thuộc Luật tạng Pàli có tên gọi Khandhaka, là một tuyển tập lớn nỗ lực trình bày các hoạt động của đức Phật và tăng già dưới hình thức các trần thuật và ký sự.

Phần cuối của Luật tạng Pàli có tên gọi Parivàra hay Parivàrapàtha, là một sổ tay hay sách chỉ nam giới thiệu về hệ thống giới luật Phật giáo.

2. Kinh tạng

Toàn bộ công tác giảng dạy của đức Phật được thực hiện bởi phương thức khẩu truyền và dưới nhiều hình thức thuyết giảng, đối thoại hay đàm luận. Sách vở chữ viết chưa được dùng và bậc Đạo sư cũng không chú ý lưu lại các cuộc nói chuyện của mình. Như vậy việc những lời dạy của đức Phật được sưu tập và sắp xếp thành những bộ kinh hay pháp thoại ổn định cả về mặt nội dung lẫn hình thức, chứng tỏ sự nỗ lực lớn của các thế hệ tỳ kheo học trị Ngài.

Kinh tạng Pàli được chia thành năm tuyển tập lớn gọi là Pàncanikàya hay năm bộ kinh gồm: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ưng bộ kinh, Tăng chi bộ kinh, Tiểu bộ kinh.

3.  Luận tạng

Nghiên cứu về Luận tạng, phần lớn các học giả đều nhất trí khuynh hướng hệ thống hóa và mở rộng tư tưởng Kinh tạng của các tác phẩm Luận tạng. Tư tưởng Phật học được nói đến trong Kinh tạng hay trong những bài pháp của đức Phật mang tính nền tảng, giúp định hướng cho việc tu học của chư Tăng ni và quần chúng cư sĩ trong các trường hợp riêng biệt. Chính Luận tạng hay nỗ lực văn học của các tỳ kheo trong giai đoạn học phái đã khiến cho giáo lý của Bậc đạo sư được biết đến dưới hình thức các hệ thống tư tưởng khá xuyên suốt. “Luận tạng là cả một sự cố gắng hệ thống hóa những lý thuyết và phương pháp tiềm tàng và rải rác trong Kinh tạng, và đặc biệt đặt những hệ thống ấy trên một bối cảnh chung và nhờ vậy giúp chúng ta có một khái niệm tổng quát và quán xuyến về đạo Phật”.

Qua sự trình bày trên, chúng ta thấy được văn học Pàli đóng vai trị quan trọng trong toàn bộ văn học Phật giáo bởi nguồn gốc cổ xưa của nó và bởi sự nguyên vẹn mà nó giữ được cho đến tận ngày nay. Văn học Pàli bắt nguồn từ những lời dạy giản dị của đức Phật được ghi nhớ và học thuộc lòng bởi các tỳ kheo. Tính chất mới mẻ, trong sáng và giản dị của giáo lý bậc Đạo sư đi đôi với sự nỗ lực khuyến khích truyền bá chánh pháp của Ngài đã là lý do khiến đạo Phật nhanh chóng được phát triển và mở rộng. Sự phát triển và mở rộng giáo lý của đạo Phật cũng đồng nghĩa với sự phát triển nền văn học Pàli cổ xưa ở xứ Phật. Khảo sát tình hình văn học Phật giáo (Pàli) tính từ thời đức Phật cho đến triều đại Asoka ở trên đã chứng minh được điều đó.

Viên Hải Mặc Nhân

 ——————————————————–

THƯ MỤC THAM KHẢO

1.   Thích Tâm Minh, Khảo cứu về văn học Pàli, NXB Phương Đông, 2006.

2.   HT. Thích Thanh Kiểm, Lược sử Phật Giáo Ấn Độ, GHPGVN: THPG TP. Hồ Chí Minh ấn hành, 1999.

3.   Thích Minh Châu (dịch), Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa, VNCPHVN TP HCM, 2000.

4.   Thích Quảng Độ (dịch), Nguyên Thủy Phật giáo tư tưởng luận, Sài Gòn, 1971.

5.   Doãn Chính, Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn độ, Hà Nội: NXB Thanh niên, 1999.

6.   Thích Mãn Giác, Lịch sử triết học Ấn độ, Viện Đại học Vạn Hạnh, 1967.

Lượt xem: 2817 Views

Copyright © 2015 Chùa Linh Bửu all rights reserved.
W W W . C H U A L I N H B U U . C O M
Chủ nhiệm:  ĐẠI ĐỨC THÍCH VIÊN HẢI
Địa chỉ:  Thôn Thạch Tân - xã Tam Thăng – TP. Tam Kỳ - tỉnh Quảng Nam
Điện thoại: 0937.736.738
Email: vienhaimacnhan@gmail.com

Thiết kế web bởi: CÔNG TY OXO.VN